vinhtan
Thứ sáu - 03/06/2016 14:10

Chúa nhật X thường niên Năm C

BÀI ĐỌC I: 1 Vua 17, 17-24
"Đây, con trai bà sống lại rồi đây".

Bài trích sách Các Vua quyển thứ nhất.

Trong những ngày ấy, con trai bà chủ nhà đau liệt, cơn bệnh nguy kịch đến nỗi chẳng còn hơi thở. Bà ấy liền nói với Êlia rằng: "Thưa người của Thiên Chúa, giữa tôi với ông có liên can gì? Ông đến nhà tôi để khơi lại những tội của tôi và giết chết con tôi sao?" Êlia đáp lại: "Bà hãy giao con bà cho tôi". Rồi ông bế lấy đứa trẻ từ lòng mẹ nó, mang lên trên lầu nơi ông cư trú và đặt nó lên giường ông. Đoạn ông kêu lên cùng Chúa rằng: "Lạy Chúa là Thiên Chúa của con, cớ sao Chúa giáng hoạ, giết con trai bà chủ nhà, nơi con cư ngụ đây?" Ông ấp mình ba lần trên đứa trẻ và kêu lên cùng Chúa rằng: "Lạy Chúa là Thiên Chúa của con, con xin Chúa cho linh hồn đứa trẻ này trở về trong nó". Và Chúa nhậm lời Êlia, cho hồn nhập lại đứa trẻ, và nó sống lại. Êlia liền ẵm đứa trẻ xuống nhà dưới, trao lại cho mẹ nó và nói rằng: "Đây, con trai bà sống lại rồi đây". Bà ta thưa cùng Êlia rằng: "Bây giờ nhờ việc này, tôi biết rõ ông là người của Thiên Chúa, và lời của Chúa nơi miệng ông là lời chân thật".                                             Đó là Lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 29, 2 và 4. 5-6. 11-12a và 13b

 BÀI ĐỌC II: Gl 1, 11-19
"Người đã mạc khải cho tôi biết Con của Người, để tôi rao giảng Người cho dân ngoại".

Bài trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Galata.
Anh chị em thân mến, tôi cho anh chị em biết rằng Tin Mừng do tôi rao giảng không phải thuộc về loài người, vì tôi không nhận, cũng không học với loài người, nhưng là do Đức Giêsu Kitô mạc khải. Anh chị em nghe nói về đời sống của tôi trước kia khi theo đạo Do thái: tôi đã bắt bớ và phá hoại Hội thánh của Thiên Chúa thái quá. Trong đạo Do thái, tôi đã vượt hẳn nhiều bạn đồng giống nòi, đồng tuổi với tôi, và tôi nhiệt thành hơn bất cứ ai đối với truyền thống của cha ông tôi. 
Nhưng khi Đấng tách riêng tôi ra từ lòng mẹ và dùng ơn Người mà kêu gọi tôi, đã thương mạc khải Con Người trong tôi, để tôi rao giảng Người trong các dân ngoại, thì không lúc nào tôi bàn hỏi người xác thịt máu huyết, và tôi không lên Giêrusalem, để gặp các vị làm tông đồ trước tôi, nhưng tôi đi ngay đến Arabia, rồi lại trở về Đamas. Đoạn ba năm sau, tôi mới lên Giêrusalem để gặp Phêrô, và lưu lại với ông mười lăm ngày. Tôi không gặp một tông đồ nào khác, ngoài Giacôbê, anh em của Chúa. 

 

PHÚC ÂM: Lc 7, 11-17
"Hỡi thanh niên, Ta truyền cho ngươi hãy chỗi dậy".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, Chúa Giêsu đến một thành gọi là Naim. Các môn đệ và đám đông dân chúng cùng đi với Người. Khi Người đến gần cửa thành, thì gặp người ta đang khiêng đi chôn người con trai duy nhất của một bà goá kia, và có đám đông dân thành đi đưa xác với mẹ nó. Trông thấy bà, Chúa động lòng thương và bảo bà rằng: "Đừng khóc nữa". Đoạn tiến lại gần, Người chạm đến quan tài và những người khiêng đứng lại. Bấy giờ Người phán: "Hỡi thanh niên, Ta truyền cho ngươi hãy chỗi dậy". Người chết liền ngồi lên và bắt đầu nói. Rồi Người trao lại cho mẹ nó. Mọi người đều sợ hãi và ngợi khen Thiên Chúa rằng: "Một tiên tri cao cả đã xuất hiện giữa chúng ta, và Thiên Chúa đã thăm viếng dân Người". Và việc này đã loan truyền danh tiếng Người trong toàn cõi Giuđêa và khắp vùng lân cận. 
SUY NIỆM:(
 Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty)

THIÊN CHÚA CHẠNH THƯƠNG NỖI THỐNG KHỔ CỦA CON NGƯỜI
Đoạn Tin Mừng ‘Đức Giêsu cho con trai một bà góa thành Na-in sống lại’ được xếp vào một trong số ít các phép lạ Người chủ động thực hiện, không qua lời khẩn cầu đôi khi phải rất khẩn khoản đầy tin tưởng của chính các nạn nhân, hoặc thân nhân của họ. Trong trường hợp cụ thể này, đơn giản là vì như được Lu-ca ghi nhận: ‘Người chạnh lòng thương’ trước tình cảnh éo le của một bà mẹ góa bụa vừa mất đi người con trai duy nhất. Chỉ có thế mà Người đã ra tay can thiệp với một phép lạ cả thể. Về phía dân chúng, đứng trước phép lạ cả thể, là một người đã chết đang trên đường đi chôn cất… bật ‘ngồi lên và bắt đầu nói’, họ không khỏi kinh ngạc tới độ cất cao tiếng ngợi khen Thiên Chúa: “Một vị ngôn sứ vĩ đại đã xuất hiện giữa chúng ta, và Chúa đã viếng thăm dân Người”. Còn riêng với tôi, phép lạ này càng gây kinh ngạc khi tôi nhận ra mối quan tâm sâu sắc mà Thiên Chúa quyền uy cao cả dành cho số phận bọt bèo của một phàm nhân tầm thường: Người chạnh lòng thương! Đối với tôi phép lạ này phản ảnh một trong các nội dung quan trọng nhất của mầu nhiệm Nhập Thể: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi…” (Ga 3:16) và, qua Đức Giêsu, Người quả thực rất quan tâm gần gũi với mọi tầng lớp con người.
Thật ra nội dung ‘chạnh lòng thương’ này không mấy xa lạ với Kinh Thánh nói chung. Trước cảnh nô lệ mà dân Do Thái phải chịu bên Ai-cập, Đức Chúa đã phán bảo Mô-sê: “Ta đã thấy rõ cảnh khổ cực của dân Ta bên Ai-cập. Ta đã nghe tiếng chúng kêu than vì bọn cai hành hạ. Phải, Ta biết các nỗi đau khổ của chúng…” (Xh 3:7) Từ đó xuất hiện trong Ít-ra-en một thái độ tin tưởng rất ấn tượng đối với Đức Chúa: “Con lâm cảnh ngặt nghẻo, Ngài lo lắng chăm nom, chẳng trao nộp thân này vào tay thù địch, nhưng cho con rộng bước thênh thang (Tv 30:9) Thế nhưng, hình như cũng đã rất sớm xuất hiện một khuynh hướng trái nghịch muốn đẩy Thiên Chúa ra xa, tới một nơi tôn nghiêm cực thánh, để rồi Người bị coi như một kẻ xa lạ, đầy thịnh nộ và quyền uy, phải được làm nguôi ngoai bằng các nghi thức lễ tế rườm rà. Từ đó lời cầu khẩn cũng không còn là hoàn toàn tin tưởng phó thác nữa, một chất chứa bồn chồn lo lắng: “Tới bao giờ hồn con vẫn còn lo lắng và hồn con ủ rũ đêm ngày? Tới bao giờ kẻ thù con thắng mãi?” (Tv 12:3); thậm chí còn tỏ ra nghi ngờ Đức Chúa xót thương, “Xin Chúa đừng chê bỏ chúng con, đừng rẻ rúng tòa vinh hiểu của Ngài. Dám xin Ngài nhớ lại đừng hủy bỏ giao ước giữa Ngài với chúng con” (Gr 14:21).
‘Thiên Chúa luôn đi bước trước…, vì lòng nhân ái vô biên của Người’ là nét nổi bật nhất trong toàn bộ mạc khải của Đức Giêsu: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời” (xem Ga 3:16). Khảng định của niềm tin Ki-tô hữu chúng ta không chỉ là: tôi tin vào một ‘Thiên Chúa yêu thương’ nhưng còn hơn thế nữa, tôi tin vào một “Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước…” Và Thánh Gio-an còn thêm: chính vì vậy mà “Tinh yêu không biết đến sợ hãi, trái lại tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi” (1 Ga 4:18-19). Đặc điểm lớn nhất của mạc khải Giêsu chính là Thiên Chúa chủ động trong tình yêu của Người đối với con người đến nỗi, sau này Người đòi nó phải trở thành mẫu mực cho mọi tương quan tình yêu giữa người với người: “Hãy thương yêu nhau như chính Thầy yêu thương chúng con” (Ga 13:34-35).
Thế nhưng cũng như thời Cựu Ước, thời gian dần trôi làm phát triển ngay giữa các Ki-tô hữu một khuynh hướng, đặc biệt trong lãnh vực phụng tự, đề cao sự vinh quang thánh thiện tột đỉnh của Thiên Chúa, nhấn mạnh sự cách biệt giữa Thiên Chúa và con người như trời với đất… Rất nhiều Ki-tô hữu rơi vào suy tưởng đầy ngộ nhận là: Thiên Chúa rất ít, hoặc hiếm khi, quan tâm tới số phận của tôi. Do ảnh hưởng của các tôn giáo vây quanh mà học thuyết phổ biến của họ là: các thần linh đòi phải được khẩn cầu và cung phụng, nhiều Ki-tô hữu không xác tín nổi rằng: có một Thiên Chúa từ nhân thực sự quan tâm tới con người yếu hèn, tới hoàn cảnh sống, nhất là tới những trạng huống đau thương của cuộc đời mình. Họ hoàn toàn đánh mất thái độ ‘như trẻ thơ nép mình bên lòng mẹ’, thái độ của con đường thơ ấu đầy tin thác của Tê-rê-xa Hài Đồng Giêsu tới độ, phải tới đầu thế kỷ XX Hội Thánh mới được nghe biết và coi như một khám phá độc đáo của thời đại. Dầu vậy cho tới ngày nay (sau Tê-rê-xa gần cả trăm năm) thực tế đã có bao nhiêu Ki-tô hữu thực sự xác tín rằng: niềm tin của mình là Tin Mừng…, vì biết rằng Thiên Chúa đã yêu thương mình cách vô điều kiện, bất chấp những lỗi lầm mình phạm?
Và còn hơn thế nữa, trong việc làm ăn sinh sống hàng ngày, niềm tin Ki-tô chúng ta có gì khác hơn so với sự cầu khẩn van xin của tín đồ các tôn giáo khác? Nếu cũng chỉ là khấn vái lạy lục để nhận được ân này huệ nọ, thì Lời Chúa hôm nay hẳn sẽ không có một giá trị nào hết. Lúc đó cùng lắm chúng ta sẽ coi việc Đức Giêsu làm phép lạ cho con trai bà góa thành Na-in sống lại cũng chỉ là một trong nhiều dịp, để Người biểu dương quyền năng tối thượng của mình mà thôi.
Vậy thì phép lạ mà Tin Mừng Chúa đề cập tới hôm nay chắc hẳn phải có giá trị củng cố niềm cậy trông còn rất yếu kém của chúng ta nhiều lắm đấy!
Lạy Chúa, xin củng cố đức tin của con, đặc biệt trong năm đức tin này. Xin cho con không chỉ tin rằng: Chúa hiện hữu, mà còn là hiện hữu chỉ vì yêu con; tin rằng Chúa yêu con không phải vì con xứng đáng mà chính vì con yếu đuối bất toàn; tin rằng Chúa hằng quan tâm chăm sóc con không phải vì con trung thành phụng sự, nhưng là vì tự bản chất, Chúa là Đấng từ bi và hay thương xót. Xin cho niềm tin này có sức đổi mới cuộc đời, cất khỏi con mọi nỗi lo âu buồn nản, nâng đỡ con lúc gặp thử thách gian nan…, để con có khả năng đem niềm vui của Chúa đến cho mọi người, đặc biệt các bạn trẻ sầu khổ thất vọng. Amen.

 


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn