vinhtan
Thứ bảy - 01/04/2017 16:03

Chúa nhật 5 mùa Chay năm A

Bài Ðọc I:     Ed 37, 12-14
"Ta sẽ cho các ngươi thần trí của Ta, và các ngươi sẽ được sống".
Trích sách Tiên tri Êdêkiel.
 
Ðây Chúa là Thiên Chúa phán: "Hỡi dân Ta, này Ta sẽ mở cửa mồ các ngươi, Ta sẽ kéo các ngươi ra khỏi mồ và dẫn dắt các ngươi vào đất Israel. Hỡi dân Ta, các ngươi sẽ biết Ta là Chúa, lúc Ta mở cửa mồ các ngươi, và kéo các ngươi ra khỏi mồ, Ta sẽ cho các ngươi thần trí của Ta, và các ngươi sẽ được sống, Ta sẽ cho các ngươi an cư trên đất các ngươi, và các ngươi biết rằng: Ta là Chúa, chính Ta đã phán và đã thi hành".
Ðáp Ca:  Tv 129, 1-2. 3-4ab. 4c-6. 7-8
Bài Ðọc II:      Rm 8, 8-11
"Thánh Thần của Ðấng làm cho Ðức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại ở trong anh em".
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.
 
Anh em thân mến, những kẻ sống theo xác thịt, thì không thể đẹp lòng Chúa. Còn anh em, anh em không sống theo xác thịt, nhưng sống theo tinh thần, nếu thật sự Thánh Thần Chúa ở trong anh em. Nếu ai không có Thánh Thần của Ðức Kitô, thì kẻ ấy không thuộc về Người. Nhưng nếu Ðức Kitô ở trong anh em, cho dù thân xác đã chết vì tội, nhưng tinh thần vẫn sống vì đức công chính. Và nếu Thánh Thần của Ðấng đã làm cho Ðức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại ở trong anh em, thì Ðấng đã làm cho Ðức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại cũng cho xác phàm hay chết của anh em được sống, nhờ Thánh Thần Người ngự trong anh em.
Phúc Âm:       Ga 11, 1-45
"Ta là sự sống lại và là sự sống".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
 
Khi ấy, có một người đau liệt tên là Ladarô, ở Bêtania, làng quê của Maria và Martha. (Maria này chính là người đã xức dầu thơm cho Chúa, và lấy tóc lau chân Người. Em trai bà là Ladarô lâm bệnh). Vậy hai chị sai người đến thưa Chúa Giêsu rằng: "Lạy Thầy, người Thầy yêu đau liệt". Nghe tin ấy, Chúa Giêsu liền bảo: "Bệnh này không đến nỗi chết, nhưng để làm sáng danh Thiên Chúa và do đó Con Thiên Chúa sẽ được vinh hiển".
Chúa Giêsu thương Martha và em là Maria và Ladarô. Khi hay tin ông này đau liệt, Người còn lưu lại đó hai ngày. Rồi Người bảo môn đệ: "Chúng ta hãy trở lại xứ Giuđêa". Môn đệ thưa: "Thưa Thầy, mới đây người Do-thái tìm ném đá Thầy, mà Thầy lại trở về đó ư?" Chúa Giêsu đáp: "Một ngày lại chẳng có mười hai giờ sao? Nếu ai đi ban ngày thì không vấp ngã, vì người ta thấy ánh sáng mặt trời; nhưng kẻ đi ban đêm sẽ vấp ngã vì không có ánh sáng". Người nói thế, rồi lại bảo họ: "Ladarô bạn chúng ta đang ngủ, dầu vậy Ta đi đánh thức ông". Môn đệ thưa: "Thưa Thầy, nếu ông ta ngủ, ông sẽ khoẻ lại". Chúa Giêsu có ý nói về cái chết của Ladarô, nhưng môn đệ lại nghĩ Người nói về giấc ngủ. Bấy giờ Chúa Giêsu mới nói rõ: "Ladarô đã chết. Nhưng Ta mừng cho các con, vì Ta không có mặt ở đó để các con tin. Vậy chúng ta hãy đi đến nhà ông". Lúc đó Tôma, cũng có tên là Ðiđimô, nói với đồng bạn: "Chúng ta cũng đi để cùng chết với Người".
Ðến nơi, Chúa Giêsu thấy Ladarô đã được an táng bốn ngày rồi. (Bêtania chỉ cách Giêrusalem chừng mười lăm dặm). Nhiều người Do-thái đến nhà Martha và Maria để an ủi hai bà vì người em đã chết. Khi hay tin Chúa Giêsu đến, Martha đi đón Người, còn Maria vẫn ngồi nhà. Martha thưa Chúa Giêsu: "Thưa Thầy, nếu Thầy có mặt ở đây thì em con không chết. Tuy nhiên, ngay cả bây giờ, con biết Thầy xin gì cùng Thiên Chúa, Thiên Chúa cũng sẽ ban cho Thầy". Chúa Giêsu nói: "Em con sẽ sống lại". Martha thưa: "Con biết ngày tận thế, khi kẻ chết sống lại, thì em con sẽ sống lại". Chúa Giêsu nói: "Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta, dầu có chết cũng sẽ được sống. Và kẻ nào sống mà tin Ta, sẽ không chết bao giờ. Con có tin điều đó không?" Bà thưa: "Thưa Thầy, vâng, con đã tin Thầy là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống đã đến trong thế gian".
Nói xong bà về gọi Maria em gái bà và nói thầm với em rằng: "Thầy ở ngoài kia, Thầy gọi em". Nghe vậy, Maria vội vàng đứng dậy và đi đến cùng Chúa. Vì lúc đó Chúa Giêsu chưa vào trong làng, Người còn đang đứng ở nơi Martha đã gặp Người. Những người Do-thái cùng ở trong nhà với Maria và an ủi bà, khi thấy bà vội vã đứng dậy ra đi, họ cũng đi theo bà, tưởng rằng bà đi ra khóc ngoài mộ. Vậy khi Maria đến chỗ Chúa Giêsu đứng, thấy Người, bà liền sấp mình xuống dưới chân Người và nói: "Thưa Thầy, nếu Thầy có mặt đây, thì em con không chết". Khi thấy bà khóc nức nở và những người Do-thái theo bà cũng khóc, Chúa Giêsu thổn thức và xúc động. Người hỏi: "Ðã an táng Ladarô ở đâu?" Họ thưa: "Thưa Thầy, xin đến mà xem". Chúa Giêsu rơi lệ. Người Do-thái liền nói: "Kìa, xem Ngài thương ông ấy biết bao!" Nhưng có mấy kẻ trong đám nói: "Ông ấy đã mở mắt người mù từ khi mới sinh mà không làm được cho người này khỏi chết ư?" Chúa Giêsu lại xúc động; Người đi đến mộ. Mộ đó là một hang nhỏ có tảng đá đậy trên. Chúa Giêsu bảo: "Hãy đẩy tảng đá ra". Martha là chị người chết, thưa: "Thưa Thầy, đã nặng mùi rồi vì đã bốn ngày". Chúa Giêsu lại nói: "Ta đã chẳng bảo con rằng: Nếu con tin, thì con sẽ xem thấy vinh quang của Thiên Chúa sao?" Thế là người ta cất tảng đá ra. Chúa Giêsu ngước nhìn lên và nói: "Lạy Cha, Con cảm tạ Cha đã nhậm lời Con. Con biết Cha hằng nghe lời Con, nhưng Con nói lên vì những người đứng xung quanh đây, để họ tin rằng Cha đã sai Con". Nói rồi, Người kêu lớn tiếng: "Ladarô! Hãy ra đây!" Người đã chết đi ra, chân tay còn quấn những mảnh vải, trên mặt quấn khăn liệm. Chúa Giêsu bảo: "Hãy cởi ra cho anh ấy đi".
Một số người Do-thái đến thăm Maria, khi được chứng kiến những việc Chúa Giêsu làm, thì đã tin vào Người.
Suy niệm:
Phải tin như thế nào?
 
“Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại!” chúng ta vẫn tuyên xưng như thế mỗi lần đọc kinh tin kính. Ki-tô hữu tin chắc một ngày kia mình sẽ được Chúa cho sống lại, cho dầu chưa một ai có kinh nghiệm về điều đó. Niềm tin này về mặt tâm lý thật rất quan trọng, vì trước hết nó có tác dụng kìm hãm con người khỏi một cuộc sống buông thả, sa đọa. Ta vẫn thường tự hỏi, những người tự xưng mình là vô thần là duy vật, nếu quả thực họ xác tín mình như thế, thì động lực nào thôi thúc họ làm lành lánh dữ đây? Thế nhưng câu chuyện thánh sử Gio-an viết về ông La-da-rô được Đức Giê-su cho sống lại sau bốn ngày đã chôn cất trong phần mộ lại không đơn giản chỉ nhằm minh chứng cho niềm tin rằng con người sẽ được sống lại. Đúng hơn đoạn Tin Mừng buộc mỗi người chúng ta giáp mặt với một vấn nạn còn quan trọng hơn thế nhiều: tôi có hay không đặt niềm tin trọn vẹn nơi một mình Đức Ki-tô Giê-su là chính nguồn sống và ‘là sự sống lại’ của tôi?
Giống như phần đa các người Do Thái khác, cô Mác-ta tin rằng hết thảy mọi người một ngày kia sẽ sống lại: “Con biết em con sẽ sống lại, khi kẻ chết sống lại trong ngày sau hết”. Tuy nhiên Đức Giê-su không đòi cô chỉ tin có một điều như thế; khi hỏi: “Chị có tin thế không?” điều Người muốn cô (và mọi tín hữu) phải tuyên xưng là: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống mà tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết”; thoạt nghe có vẻ như cả hai câu nói lên cùng một điều duy nhất, tuy nhiên nhìn kĩ ta mới khám phá ra rằng: câu Đức Giê-su khảng định có nội dung khác hẳn với câu Mác-ta tuyên xưng.
Mà quả thực là như vậy! Đáp lại câu hỏi “Chị có tin thế không?” cô Mác-ta đã vội vã sử dụng công thức tuyên tín quen thuộc: “Thưa Thầy, có! Con vẫn tin Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian”. Cô thành thực tin rằng: Đức Giê-su quả là đấng Ki-tô; và như thế có nghĩa là Người chắc chắn có mọi quyền năng được Thiên Chúa ban cho; rồi cũng chính nhờ quyền năng đó mà Người có thể cứu cậu em La-da-rô mình khỏi chết: “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây em con đã không chết. Nhưng bây giờ con biết: bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Người cũng sẽ ban cho Thầy”. Niềm tin đó tự nó đã cao đẹp lắm rồi, nhưng hình như vẫn còn quá yếu để cô nắm chắc rằng cậu em sẽ được sống lại. Quả vậy, khi Đức Giê-su truyền lăn phiến đá lấp cửa mồ ra, cô còn hớt hải phảng kháng:  “Thưa Thầy, nặng mùi rồi, vì em con ở trong mồ đã được bốn ngày!” Đối với cô, quyền năng của Thiên Chúa chỉ có thể cứu sống La-da-rô khi chưa chết, chứ không thể làm cho ông anh ‘đã chết bốn ngày rồi’ chỗi dậy. Cho dù Đức Giê-su có quyền năng gì đi chăng nữa, thì cũng chỉ tới mức độ đó mà thôi.
Không thỏa mãn với niềm tin đó, Đức Giê-su khảng định cách chắc nịch và căn cơ hơn: “Chính Thầy là sự sống lại và làsự sống!” Người còn thêm: ai tin điều đó, tất nhìn thấy vinh quang Thiên Chúa: “Nào Thầy đã chẳng nói với chị rằng, nếu chị tin, chị sẽ được thấy vinh quang của Thiên Chúa sao?” Làm cho một kẻ đã chết về thể lý sống lại thì rõ ràng quyền năng của Thiên Chúa đã được chứng tỏ, còn nếu hoàn lại sức sống thần linh cho một kẻ đã chết trong tội thì lại càng phải biểu lộ vinh quang đó cách rõ rệt hơn (xem Mc 2:9-10)! Thế nhưng không may là thường khi chúng ta lại có ấn tượng ngược lại. Hơn nữa tin rằng Thiên Chúa là đấng hằng sống thì dễ, nhưng nhận biết ‘Ngài  sự sống lại’ thì ta chưa quen… Lý do là vì: nếu Thiên Chúa là sự sống lại, thì điều đó có nghĩa là: Người phải chết trước đã. Bất kỳ sự sống lại nào cũng đều phải kinh qua sự chết, cũng như bất cứ ai được sống lại về thể lý hay thần linh thì trước hết cũng đều phải kinh qua cái chết thể lý hay tinh thần; khảng định: “Chính Thầy  sự sống lại”, Đức Giê-su tuyên bố trước cái chết của Người trên thập giá. Dầu là hiện thân của Thiên Chúa hằng sống, thì để  sự sống lại, Người cũng nhất thiết phải kinh qua cái chết; nhất thiết phải tự hủy mình ra như không (xem Pl 2:7), phải bỏ trời xuống thế, phải mang lấy thân phận tội lỗi yếu hèn và nhận lấy cái chết của toàn nhân loại. Ta có thể nói: qua Đức Ki-tô, chính Thiên Chúa cũng trải qua cái chết; “Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng để thế gian, nhờ Con của Người mà được cứu độ… Ai tin vào con của người thì khỏi phải chết” (Ga 3:16-17; cũng cần xem thêm Ga 5:21.24). Vì là sự sống lại, nên Người không phải chỉ hằng sống và làm cho kẻ khác sống lại, mà chính Người cũng chết và sống lại; do đó sẽ là điều tự nhiên thôi: “Ai tin vào Thầy thì dù có chết cũng sẽ được sống!” Điều này chắc chắn Mác-ta không hiểu, nhưng Ki-tô hữu chúng ta thì phải khác; kinh nghiệm hàng ngày cống hiến cho ta muôn vàn dịp để thâm tín điều này, khởi đầu từ lãnh nhận Phép Rửa để nhen nhúm lên niềm tin sống lại; rồi những lần xưng tội sau những lỗi phạm và sa ngã…, trong đời sống mình Ki-tô hữu củng cố không ngừng niềm tin: Đức Ki-tô quả là, và liên tục là sự sống lại của tôi!
Phải, để tin chắc rằng Đức Giê-su chính là sự sống lại của mình, mỗi chúng ta đều cần có cảm nghiệm tội lỗi, một điều không khó vì trong suốt một đời người chẳng ai mà không có! Mùa Chay gửi tới các Ki-tô hữu sứ điệp: “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng!” điều đó có nghĩa là: nhờ sám hối, tức là từ kinh nghiệm chết trong tội, chúng ta mới có thể tuyên xưng cách mạnh mẽ và tràn trề hy vọng: ‘Chúa chính là sự sống lại, là Cứu Chúa của tôi!’ Như thế, Thập Giá và Phục Sinh phải là một Tin Mừng liên hoàn duy nhất, chết và sống lại chỉ là hai mặt của cùng một lòng thương xót thứ tha của Thiên Chúa đối với con người mà thôi.
Tôi cần học lấy bài học quan trọng này, nhất là vào dịp cuối Mùa Chay thánh: nếu cùng chết với Đức Ki-tô, tôi chắc chắc sẽ cùng được sống lại với Người (xem Rm 6:4).
 
Lạy Chúa từ nhân, bây giờ thì con mới hiểu: chỉ có Chúa mới có thể biến kinh nghiệm ‘chết trong tội’ của con thành nguồn sống mới dồi dào; con mới hiểu được sức sống phục sinh được thánh Âu-tinh phát hiện trong cái chết của tội lỗi mình, để rồi ngài dám hét to lên: “Ôi tội hồng phúc!” Xin cho con cũng biết ngợi ca và tôn vinh Chúa không ngừng về ‘yếu tính’ tuyệt vời này của Người. Xin Chúa làm cho đời con, giữa các kinh nghiệm u tối của tội lỗi, luôn tìm thấy nơi Chúa ánh vinh quang bất diệt của sự sống lại. A-men
Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty SDB
 
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn